ifindu’s mini world

July 11, 2008

[PEPSI vs COKE - TRẬN THƯ HÙNG]

Filed under: Advertising, Branding, Story — Tags: , , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 1:35 am

Trên thị trường tiêu thụ toàn cầu, sản phẩm Coca-Cola bao giờ cũng “nhỉnh” hơn Pepsi, riêng tại Việt Nam, đặc biệt khu vực TP Hồ Chí Minh, tình hình như có vẻ… ngược lại.

Khoảng đầu thập niên 90, khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường thì trong nước hầu như không có một “thương hiệu” nước ngọt nào được “cầu chứng” ngoài thương hiệu “xá xị” có từ trước 1975 và sau này có thêm thương hiệu Tribeco (một hãng nước ngọt liên doanh với Ðức), còn lại là “vô số” nhãn hiệu “tào lao” được ra đời theo kiểu “tổ sản xuất”.

Khi đó “đại gia” Pepsi ký được hợp đồng “xâm nhập” thị trường Việt Nam, lập tức với thế lực hùng hậu của mình, Pepsi “thi triển võ công” và ngay lập tức thống lĩnh thị trường Việt Nam từ Nam ra Bắc. Tất cả những “hãng” nước ngọt “linh tinh” ở Việt Nam lập tức “sập tiệm” (chỉ cần với một chiêu thức đơn giản là “khuyến mãi đại hạ giá”).

Với giá quá rẻ, cộng thêm uy tín chất lượng “hàng đầu thế giới”, Pepsi “đè bẹp” các đối thủ Việt Nam trong vòng không quá… một tháng. Riêng hãng nước ngọt Tribeco cũng đành “ngậm ngùi” chấm dứt thời “hoàng kim” ngắn ngủi của một hãng liên doanh với Ðức để chuyển sang sản xuất nước uống sữa đậu nành để tránh phải đối đầu với một thế lực nội công thâm hậu như là Pepsi.

Sau khi đã đánh sập tiệm các “tổ hợp sản xuất” nước ngọt nội địa của Việt Nam , Pepsi tiến tới thiết lập hệ thống phân phối trên toàn cõi Việt Nam . Ngoài các đại lý và tổng đại lý, Pepsi còn “tiếp cận” hầu hết các quán cà phê (nơi quảng bá và tiêu thụ một lượng rất lớn nước ngọt của Pepsi).

Giai đoạn này là thời kỳ cực thịnh của “siêu cường” Pepsi tại Việt Nam . Khi đó du khách tới Việt Nam qua cửa ngõ Tân Sơn Nhất, chỉ cần ra khỏi phi trường đã thấy ngay một tấm pa-nô cực lớn quảng cáo cho hãng Pepsi chào đón.Phải đến mấy năm sau Coca-cola mới xin được giấy phép “xâm nhập” thị trường Việt Nam . Người Việt có câu: “Trâu chậm uống nước đục”, đó chính là tình cảnh của Coca-cola khi đứng trước đối thủ “truyền kiếp” là Pepsi tại thị trường Việt Nam . Cuối thập niên 90, người tiêu dùng Việt Nam được chứng kiến cuộc “thư hùng” giữa hai đối thủ sừng sỏ là Pepsi và Coca-cola.

Vừa “chân ướt chân ráo” “đổ quân” vào thị trường Việt Nam , Coca-cola đã vội tung “chưởng” đại hạ giá để “thị uy” và giành giật thị phần. Nhưng tình hình lúc đó đã khác với thời điểm Pepsi vào Việt Nam . Khi Pepsi vào Việt Nam chỉ có những “đơn vị” sản xuất nước ngọt nhỏ lẻ, manh mún giống như những tổ hợp sản xuất, công nghệ lạc hậu, vốn liếng “ba cọc ba đồng” èo uột, nên Pepsi mau chóng dẹp “loạn 12 sứ quân” và thiết lập mạng lưới phân phối rất hoàn hảo trong toàn cõi của “đế chế”.

Ngay cả chiêu thức “đại hạ giá” mà Coca-cola tung ra cũng không mấy hiệu quả vì luật pháp Việt Nam thời “đổ bộ” của Pepsi vào Việt Nam còn rất yếu kém về mặt quản lý kinh tế, nên Việt Nam hầu như không kịp trở tay khi Pepsi “tung chưởng” làm tan vỡ hầu hết các cơ sở sản xuất nước ngọt trong nước.

Nhưng khi Coca-cola vào Việt Nam thì luật pháp Việt Nam đã kịp “điều chỉnh”, họ đã kịp ra quy định về việc khuyến mãi không được bán dưới giá thành sản xuất và quy định phần trăm cụ thể. Hơn nữa khi Coca-cola “đại hạ giá” thì lập tức Pepsi cũng “thi triển võ công” với chiêu thức tương tự làm cho Coca-cola không thể tự ý “tung hoành”. Hai hãng cuối cùng lại phải quay lại sân chơi “truyền kiếp” là tung ra những chiêu thức tiếp thị-quảng cáo theo từng đợt trên các phương tiện truyền thông đại chúng tại Việt Nam .

Trên “sân chơi” toàn cầu, Coca-cola chiếm thế “thượng phong” so với Pepsi nhờ chiến lược tiếp thị và quảng cáo của họ. Riêng thị trường Việt Nam, Pepsi không những có được một hệ thống phân phối tốt trên toàn xứ Việt Nam (nhờ tới trước) mà họ còn có được những nhà quản lý và điều hành giỏi có thể ví như những “tướng quân”

Những người Việt không những am hiểu “công nghệ tiếp thị” mà đồng thời họ cũng rất am hiểu tâm lý của người Việt - điều này rất quan trọng. Nhờ vậy, Pepsi luôn đẩy lui bất cứ đợt “phản công” giành giật thị trường nào của Coca-cola.

Thí dụ, “đánh” vào tâm lý yêu thích bóng tròn và tâm lý tự hào dân tộc của người Việt, Pepsi tổ chức “ngày hội bóng đá” thông qua show quảng cáo trên truyền hình,với hình ảnh cầu thủ bóng đá Việt Nam được yêu thích nhất thời bấy giờ, biểu diễn “tâng bóng” cùng với các danh thủ hàng đầu thế giới.

Và đồng thời tung ra khẩu hiệu: “Uống Pepsi là ủng hộ đội tuyển quốc gia Việt Nam vươn ra đấu trường quốc tế”. Lập tức doanh số bán ra của Pepsi “tăng vọt” (nhất là trong các giải cầu của Ðông Nam Á, hoặc Châu Á có đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự) đồng thời tình cảm của dân chúng đối với Pepsi cũng được “gia cố” và gia tăng.

Cũng cần phải nói thêm, “khẩu vị” của Pepsi cũng hợp với người Việt hơn là Coca-cola. Chẳng hạn, chai to hơn (có cảm giác bề ngoài như vậy), nước uống cũng ngọt đậm đà hơn. Ðiều này phù hợp với tâm lý tiêu dùng của người bản địa. Còn ở các thị trường khác(như các nước Âu-Mỹ) thì vị lạt của Coca-cola hợp khẩu vị hơn, vì trong những xã hội phát triển, người ta đã quá ngán những gì quá béo, quá ngọt…

Trên mặt trận “cầm cự” hai “siêu cường” vẫn tung ra những chiêu thức “lai rai”, như Pepsi tung ra đợt quảng cáo “uống Pepsi trúng xe Honda” thì Coca-cola tung ra chiêu uống Coca trúng vé đi du lịch nước ngoài (nhưng trên trận địa “thông thường” này cục diện “chiến trường” cũng không hề thay đổi).

Coca-cola muốn thắng Pepsi tại thị trường Việt Nam thì họ phải thiết lập được mạng lưới phân phối như Pepsi (điều này khó, vì Pepsi dựa trên những đại lý có sẵn, họ chỉ “đổ” sản phẩm xuống với chính sách “chăm sóc khác hàng” tốt, chứ không tốn tiền đầu tư trang thiết bị).

Thêm nữa, Coca-cola phải “chiêu dụ” được những “tướng quân” kinh doanh am hiểu tâm lý người Việt để hoạch định một chiến lược “phản công” lâu dài, đúng đắn hơn. Ðiều này cũng khó, vì Pepsi vào Việt Nam trước, những người tài giỏi làm việc cho Pepsi cũng gắn niềm tự hào cá nhân của họ cùng với thương hiệu Pepsi, nên họ sẽ bảo vệ thương hiệu này tới cùng (đó cũng là một đặc điểm tâm lý của người Việt). Hơn nữa, chắc chắn Pepsi không bao giờ “ngủ quên trên chiến thắng”, cuộc chiến toàn cầu giữa hai đối thủ “truyền kiếp” giúp Pepsi đủ kinh nghiệm để luôn “đề cao cảnh giác”.

Ngày ngày, Coca-cola vẫn bền bỉ trong chiến dịch “xâm lấn” thị phần của mình. Họ sử dụng những người bán lẻ, đẩy dạo những chiếc xe 3 bánh nhỏ đi bán dạo trên hè phố, đồng thời đi sâu vào tận “hang cùng ngõ hẹp” của Thành phố (nơi có thể những “vòi bạch tuộc” của hệ thống phân phối của Pepsi còn “bỏ sót”).

Những người bán dạo bằng xe đẩy của coca-cola bán ra một chai coca với giá chỉ có 2 ngàn đồng, trong khi ngoài quán cà-phê một chai Pepsi có giá là 5 ngàn đồng, còn ở nhà hàng là 9 ngàn đồng. Dĩ nhiên Coca-cola không đặt hy vọng vào doanh thu của từng chai nước ngọt (được bán dạo), mà chủ yếu họ tiếp thị “khẩu vị“cho khách hàng, đồng thời tiếp thị luôn những quán “cóc” nhỏ bé trong hẻm lấy hàng của Coca với giá “ưu đãi,” bằng cách đó tạo ra thị phần cho hãng Coca.

Với tình hình cạnh tranh trên, người Thành phố có dịp chứng kiến hai hình ảnh trái ngược nhau. Trong khi những chiếc xe tải nhỏ mang hình ảnh của thương hiệu Pepsi ung dung chở hàng tới bỏ cho các đại lý và quán cà-phê thì người ta lại thấy những chiếc xe 3 bánh “nhỏ xíu” của Coca-cola được đẩy đi bán dạo trên hè phố và trong các con hẻm… Ðây có lẽ cũng là một chiêu thức “độc đáo” trong việc chiếm thị phần của Coca, vì đẩy xe bán dạo là một trong những hình ảnh “thân quen” trong cuộc sống đô thị của người Việt…

Hai hình ảnh trái ngược trên nói lên sự cạnh tranh bền bỉ, dai dẳng, kiên nhẫn và cũng vô cùng khốc liệt của hai “đế quốc nước ngọt” trong trận chiến “thư hùng” về kinh tế. Và ai biết đâu một ngày nào đó dân chúng Việt Nam sẽ chứng kiến cuộc “lật đổ” đầy ngoạn mục của Coca-cola trong việc tranh giành thị phần với Pepsi tại Việt Nam

From vietnambranding

May 19, 2008

[THIẾT KẾ THƯƠNG HIỆU - MỘT SỐ LƯU Ý]

Filed under: Advertising, Branding — Tags: , , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 4:26 am

[Lantabrand]Thương hiệu được làm nên bởi nhiều yếu tố. Tuy nhiên khi thiết kế một thương hiệu cũng cần tránh một số sai lầm. Những sai lầm thường gặp khi đặt tên thương hiệu.

Những sai lầm thường gặp khi đặt tên thương hiệu.

Đặt tên cho xong việc: Không quan tâm đúng mức đến tên thương hiệu. Trì hoãn cho đến phút cuối.

Công việc kinh doanh nào mà tôi thực sự tham gia? Không xác định mục tiêu cho việc đặt tên thương hiệu. Không có kế hoạch cụ thể cho dự án kinh doanh.

Đó là “Đứa con của tôi”: Cho rằng cái tên đầu tiên chợt đến trong suy nghĩ của mình bao giờ cũng hay nhất, cơ bản nhất, không ai có thể nghĩ đến trước đó.

Quá đề cao cá nhân: Đánh giá cao bản thân và đặt tên theo cảm hứng (thường là lấy tên riêng của chính mình) để áp đặt một cái tên mà không quan tâm xem liệu nó có phù hợp hay không.

Quá cầu kỳ chau chuốt: Quá câu nệ rằng phải đặt một cái tên không thể tan biến trong một đám đông và thực sự tạo được một bản sắc riêng.

Hữu xạ tự nhiên hương: Công ty của tôi, sản phẩm (dịch vụ) của tôi là rất tốt (và tất nhiên bản thân tôi cũng vậy), nếu mọi người thực sự mong muốn, họ sẽ tìm ra tôi. Vì thế, tôi không cần một kế hoạch marketing (trong đó bao gồm một thương hiệu lớn).

Trưởng giả học làm sang: Tôi không mất công đoái hoài đến việc làm ăn với những người kém hiểu biết, nói chuyện với người lạ. Bởi vậy cái tên nghe có vẻ lãnh đạm, khó hiểu là thích hợp rồi.

Đẽo cày giữa đường: Đưa vấn đề đặt tên thương hiệu cho quá nhiều người không có khả năng đóng góp ý tưởng có giá trị.

Quá tự tin: Không cho phép có sự tham gia của những người thực sự có những ý tưởng giá trị.

Những yếu tố của một tên thương hiệu lớn.

Bạn muốn tạo sắc thái nào cho tên thương hiệu của mình. Những từ nào có thể miêu tả rõ ràng nhất điều này: đầy sinh lực, đẹp, thu hút, tôn quý kỳ dị, mạnh mẽ, dồi dào thông tin, gây cười, hóm hỉnh, có ý nghĩa, nổi trội, thanh lịch, mãnh liệt, ngắn gọn, táo bạo, độc đáo, lãng mạn, mang tính kỹ thuật? Thiết như vậy không? “Chuyên gia nhãn khoa” sẽ có sắc thái khác hẳn “Bác sĩ mắt”.

“Cần thiết” có nghĩa là, trước tiên phải làm rõ sản phẩm, dịch vụ của công ty là gì hoặc đem đến lợi ích gì cho khách hàng. Nếu tên thương hiệu chưa gợi lên được thuộc tính hoặc lợi ích của sản phẩm thì bao bì, biểu tượng hoặc câu khẩu hiệu sẽ là công cụ bù đắp những nội dung này. Thí dụ: Bản thân chữ Bitis có lẽ không gợi lên được thuộc tính hoặc lợi ích của các sản phẩm giày dép. Nhưng nó được bổ sung và giải thích bằng câu khẩu hiệu rất ấn lượng “Nâng niu bàn chân Việt”.

Tạo dựng hình ảnh thích hợp trước đối tượng khách hàng mục tiêu.

Tạo dựng hình ảnh cho một sản phẩm không phải là điều đơn giản bởi đó là cách công ty định vị thương hiệu trên thị trường. Tên thương hiệu, lo go, điệu nhạc và các yếu tố thương hiệu khác cần phải được kết hợp một cách nhất quán và được truyền tải một cách thích hợp qua các chương trình quảng cáo đến khách hàng mục tiêu. Thí dụ: Với một danh mục các sản phẩm làm đẹp gồm dầu gội đầu, sữa tắm, phấn thơm… cho những phụ nữ có tính cách lãng mạn, sản phẩm có được một cái tên rất quyến rũ, đó là Enchanteur. Mục quảng cáo của sản phẩm này được thể hiện bởi cô gái trẻ đẹp, với phong cách lãng mạn, trên nền một bản nhạc cổ điển - Romance.

Những nhóm khách hàng là rất khác nhau, vì vậy việc chọn lựa những hình ảnh mục tiêu để tác động đến họ một cách hiệu quả không phải là điều dễ dàng.

Dễ nhớ.

Đây là điều rất quan trọng mà chúng ta sẽ xem xét chi tiết ở phần “Thiết kế thương hiệu”. Phần lớn những kỹ thuật thiết kế thương hiệu đều cố gắng để đạt được điều này. Không cần phải quá cầu kỳ, chau chuốt mà chỉ cần bảo đảm được thương hiệu đó là duy nhất và nó được gắn chặt vào tâm trí khách hàng.

Hợp pháp.

Nếu tên thương hiệu của bạn đã được người khác đăng ký bảo hộ, thì bạn phải tìm cái khác thay thế. Bạn nên sáng tạo ra kiểu tên cho phép mở rộng nhất quyền sở hữu tiềm năng của bạn. Và hẳn bạn sẽ muốn tiến hành việc bảo vệ những quyền đó chừng nào mà bạn còn sử dụng cái tên đó. Điều này sẽ được trình bày chi tiết trong phần “Hướng dẫn đăng ký bảo hộ độc quyền”.

Có được sự khác biệt và dễ truyền cảm.

Đây là sự mở rộng của yếu tố “dễ nhớ”, sẽ được cộng thêm điểm. Nó có thể đạt được đơn giản nhờ sự kết hợp ngẫu nhiên đánh vần của họ - J.C.Penney - hoặc phức tạp hơn, chẳng hạn tạo ra hẳn một từ mới như Exxon. Hay có thể là sự kết hợp của cả hai cách thức trên, như là sự kết hợp láu lỉnh của tên, thí dụ như U-Haul. Không có một tiêu chuẩn quốc tế nào đối với việc chọn lựa một thương hiệu. Nếu một chủ doanh nghiệp sáng tạo ra một cái tên đầy quyền năng đến nỗi công ty của anh ta trở thành một địa chỉ quen thuộc đối.

Các tiêu chí dưới đây có thể giúp bạn căn cứ vào đó để kiểm tra việc đặt tên cho doanh nghiệp của mình. Tất cả các tên thương hiệu đều phải đáp ứng được năm yếu tố cơ bản đầu tiên dưới đây. Nếu không, cần phải có lý do chính đáng. Năm yếu tố đầu tiên cũng là bài kiểm tra đối với các tên tuổi hiện thời, khi sự ra đời của chúng chưa được quan tâm đúng mức với tư cách là một công cụ marketing.

Một cái tên tốt cần:

1. Dễ đọc, dễ phát âm, dễ đánh vần.

2. Truyền tải những thông tin cần thiết về sản phẩm hoặc dịch vụ.

3. Tạo dựng hình ảnh thích hợp cho đối tượng khách hàng mục tiêu.

4. Dễ nhớ.

5. Được pháp luật bảo hộ.

Tuy nhiên, để một cái tên tốt trở thành một cái tên lớn, cần:

1. Có được sự khác biệt và dễ truyền cảm.

2. Đã được thử thách qua thời gian.

Dễ đọc, dễ phát âm, dễ đánh vần với một cái tên lạ, lần đầu tiên được thấy hoặc nghe, người ta sẽ gặp khó khăn gì? Nó có dễ đọc, dễ phát âm không? Khi trình hồ sơ vay tiền ở ngân hàng, liệu có ai đó nhíu mày khi nhìn thấy cái tên này không?

Liệu nó có đáng mong ước và tự hào đối với những người xin việc hoặc những người đang bán sản phẩm, dịch vụ của bạn không? Nghe nó trên các chương trình bản tin thương mại hay quảng cáo như thế nào? Và điều quan trọng nhất, liệu nó có bị khán giả bỏ qua vì họ cho rằng thật lãng phí thời gian để tìm hiểu cụ thể hơn về cái tên này?

Truyền tải những thông tin cần thiết về sản phẩm của bạn.

Trong vô vàn những cái tên, bạn phải sử dụng những từ trong vốn từ vựng trung bình của mọi người. Nhiều khi, việc hiểu chính xác nội dung của nó lại không phải là điều quan trọng. Quan trọng là nghe nó như thế nào, nhìn nó ra sao, tức là sự “cảm nhận” do từ ngữ đem lại như thế nào? Nó có những từ chuyên môn kỹ thuật không? Nếu có, thì có cần với khách hàng, thì anh ta đã tạo ra một thương hiệu lớn.

Đã được thử thách qua thời gian.

Điều này có nghĩa là qua thử thách của thời gian, cái tên đó vẫn phải duy trì được uy tín trên thị trường. Do đó, có một điều chắc chắn là: không một ông chủ, một chuyên gia hay một cơ quan nào có thể tuyên bố đây là thương hiệu lớn mà thương hiệu đó phải chứng minh bản thân mình bằng sức sống trên thị trường. Việc đánh giá một thương hiệu nào đó là mạnh hay yếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: chất lượng sản phẩm, tình trạng tài chính, khả năng cạnh tranh, sự nhạy bén trong kinh doanh, sự thức thời và tất nhiên cả may mắn - trong cuộc chơi. Một thương hiệu trước hết phải trụ lại được trên thị trường trước khi được xem là một tên tuổi lớn.

Ai có thể tham gia thiết kế thương hiệu.

Về mặt lý thuyết, có bốn cách để thiết kế cho thương hiệu của bạn.

1. Thuê một công ty chuyên sáng tạo thương hiệu hoặc một công ty tư vấn hình ảnh doanh nghiệp. Họ có mọi thứ: Kỹ năng, những chuyên gia đầy sáng tạo, sự tiếp cận với cơ sở dữ liệu máy tính đủ các lĩnh vực và khả năng kiểm nghiệm thị trường kỹ lưỡng. Tuy nhiên, dịch vụ của họ khá đắt và lại chỉ có ở một số ít các thành phố lớn. Do đó, chủ yếu khách hàng sử dụng dịch vụ của những công ty này là các tổ chức lớn có đủ tiềm lực về tài chính.

2. Làm việc với các chuyên gia về quảng cáo, quan hệ với công chúng và marketing. Dù sao tên hiệu cũng là một phần của chiến dịch marketing. Nhưng lời khuyên mà bạn nhận được cũng chỉ có ích như của những người khác mà thôi. Hãy nhớ rằng, tất cả mọi người đều có thể là chuyên gia về thương hiệu. Tính chuyên nghiệp cũng được xếp loại từ những chuyên gia giỏi, những người hiểu biết phải làm gì và không được làm gì, cho đến những thực tập sinh mới vào nghề.

3. Một số doanh nhân nhỏ sẽ bỏ qua những cách thức trên và chỉ làm việc với chuyên gia thiết kế đồ họa được thuê để sáng tạo ra lo go, tiêu đề thư, danh thiếp và có thể là cả tên gọi nữa.

4. Còn một bộ phận lớn còn lại? - Vì nhiều lý do, chủ yếu là lý do tài chính, sẽ tự mình sáng tạo tất cả.

Có thể độc giả của cuốn sách này sẽ tự đặt tên thương hiệu cho mình, nhưng sẽ thiếu cẩn trọng nếu không xem xét đến lợi ích có thể mang lại do tham vấn từ những người khác. Bên cạnh khả năng, nguồn lực kinh nghiệm, họ còn có thể đóng góp những thứ vô giá. Họ có khả năng nhìn nhận chúng ta như người khác nhìn chúng ta. Việc sẵn sàng nhận tham vấn, đối với nhiều người, thật là khó. Chúng ta có thể bị chìm ngập với công việc kinh doanh của mình hằng ngày, do đó dễ xét đoán vấn đề một cách chủ quan mà không tiếp cận một cách khách quan trên bình diện một bức tranh tổng thể. Kinh nghiệm cho thấy, những người luôn tự hào rằng họ có thể nhìn thấy những điều từ những quan điểm của người khác lại thường là những người chẳng nhìn thấy gì cả. Và đó là điều không tốt trong marketing.

Sau khi bạn đọc xong cuốn sách này và cố gắng tạo ra “một thương hiệu lớn” thì việc sáng tạo ra nó không phải đơn giản đối với bạn, dù với bất kỳ lý do nào. Tuy nhiên, sau khi thuê người khác sáng tạo thương hiệu cho bạn, bạn có thể hưởng lợi từ việc khách hàng hiểu biết mình hơn. Song hãy luôn nhớ rằng đừng cho phép ai đó có thể cung cấp cho bạn một tên thương hiệu hoàn toàn không phù hợp với bạn. Trên tất cả, cái tên đó phải mang lại cảm giác tốt đẹp. Bạn phải cảm thấy tự hào khi đọc to nó lên. Đây là công ty của bạn, là sản phẩm, là dịch vụ, là tương lai và là tiền của bạn.

Tóm tắt về marketing.

Bóng đá, như ai đó đã nói, thực sự là một trò chơi đơn giản mà phức tạp. Đội của bạn phải di chuyển bóng về phía cầu môn đối phương, song phải ngăn cản họ tiếp cận tới khung thành của mình. Marketing cũng vậy: đơn giản về khái niệm, song phức tạp trong thực tiễn.

Nguyên tắc vàng đầu tiên của marketing: Hãy làm cho khách hàng của bạn dễ dàng nói “có”. Tất nhiên, điều này nói dễ hơn làm và thường bị sao lãng đi khi công ty phát triển lên. Để vận dụng quy tắc này cần phải có sự phân tích triệt để, từng bước của tất cả các yếu tố, thậm chí là ở những công việc kinh doanh nhỏ nhất. Một trong những việc cần làm đó là tạo dựng thương hiệu, mà nhờ đó khách hàng của bạn có khả năng tìm ra bạn, biết bạn là ai và nhớ đến bạn.

Quy tắc thứ hai: Sự lặp lại liên tục. Những nỗ lực kiên định, bền bỉ suốt 52 tuần trong một năm sẽ tốt hơn là ào ào trong chốc lát. Một tên tuổi lớn cần có một sự nhắc lại liên tục trong muôn vàn những thương hiệu khác.

Các yếu tố của marketing: Dù bạn có sản xuất ô-tô hay kem ốc quế, xuất bản cuốn sách, cung cấp dịch vụ nha khoa hay quảng cáo cho một sản phẩm mới nhất của mình, thì việc lập kế hoạch và thực hiện tốt công tác marketing sẽ đem lại hiệu quả. Tất cả đều bắt đầu với cùng một cách thức marketing cơ bản. Các bước marketing dưới đây đã được nhiều người phân tích và trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung được đúc rút một cách súc tích như sau:

1. Thu hút sự chú ý: “Chộp lấy” khách hàng tiềm năng của bạn ngay từ cái nhìn đầu tiên, buộc họ phải dừng lại một lát và muốn tìm hiểu thêm. Chức năng của quảng cáo.

2. Kích thích sự quan tâm: Hãy nói cho khách hàng mục tiêu biết về khả năng mà sản phẩm, dịch vụ của bạn có thể phục vụ cho những nhu cầu của họ. Đừng nhầm lẫn với việc chỉ liệt kê một danh sách các đặc điểm của sản phẩm một cách đơn thuần.

3. Tạo sự mong muốn: Tạo ra mong muốn mua hàng. Điều này có thể đạt được thông qua thương hiệu (tên gọi, bao bì, kiểu dáng…), các chương trình quảng cáo, truyền thông tác động đến các nhu cầu cơ bản của khách hàng như: Các nhu cầu về sức khỏe, giải trí, thẩm mỹ, sự thư giãn,…

4. Đáp ứng nhu cầu: Kết thúc với lời chào hàng hấp dẫn đến nỗi khách hàng không thể cưỡng lại được. Cuối cùng là hào hứng mua sản phẩm của bạn.

Một thương hiệu lớn là một phần không thể thiếu được trong kế hoạch marketing của bạn. Dù ở mức độ nào, nó cũng cần phải đáp ứng được các yếu tố trên đây. Một cái tên tẻ ngắt, vô cảm sẽ ảnh hưởng đến công ty, sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn. Một thương hiệu lớn, sau khi đáp ứng được các bước trên, sẽ liên hệ mật thiết với công ty, sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn và quan trọng hơn nó sẽ đến với khách hàng của bạn một cách dễ dàng.

Theo Báo Nhân dân

April 24, 2008

[XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU - KINH NGHIỆM TỪ HÀN QUỐC]

Filed under: Advertising, Idea — Tags: , , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 6:06 am



Thương hiệu công ty, thương hiệu sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với thương hiệu quốc gia. Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu doanh nghiệp ở Hàn Quốc có thể cung cấp những thông tin hữu ích cho doanh nghiệp nói riêng và nỗ lực xây dựng thương hiệu quốc gia nói chung.

Ba giai đoạn nhận thức

Khác với Mỹ, châu Âu và Nhật đã có nhiều thập niên kinh nghiệm về xây dựng và quản lý thương hiệu, các công ty Hàn Quốc coi thương hiệu là lĩnh vực tương đối mới mẻ. Nhận thức về thương hiệu ở Hàn Quốc đã tiến dần qua ba giai đoạn chính.

Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp coi thương hiệu chỉ như là tên gọi của sản phẩm. Quan niệm này không hoàn toàn sai bởi vì tên doanh nghiệp, tên sản phẩm tự chúng đã rất quan trọng; nhưng dĩ nhiên thương hiệu không chỉ là cái tên. Mới hai mươi năm trước ở Hàn Quốc người ta còn xem phong thủy khi chọn tên sản phẩm, tên công ty, giống như đặt tên cho trẻ con vậy. Có thời các công ty đua nhau đăng ký trước hàng trăm cái tên “tốt lành” để bảo đảm rằng đối thủ cạnh tranh sẽ không thể giành được những cái tên hay ho như vậy. Lề thói này bây giờ đã không còn.

Giai đoạn thứ hai là khi các doanh nghiệp có ý thức về thương hiệu và bản sắc của mình. Đây là lúc công ty bắt đầu đánh giá cao ý nghĩa của thương hiệu; bắt đầu thuê mướn các công ty tư vấn về văn hóa doanh nghiệp thiết kế thương hiệu và xây dựng quan niệm thương hiệu cho mình.

Đối với các thương hiệu Hàn Quốc, mục tiêu là toàn cầu hóa hình ảnh. Ví dụ, đầu thập niên 1990 Công ty Điện tử Goldstar đổi tên thành LG (viết tắt của chữ Lucky Goldstar - Ngôi sao vàng may mắn) ngay sau khi mua lại thương hiệu ti vi nổi tiếng của Mỹ là Zenith. Thương hiệu mới của LG là một thành công và cái logo và slogan mới, thân thiện, dễ đọc dễ nhớ nhanh chóng trở nên quen thuộc khắp thế giới.

Một công ty Trung Quốc cũng đang đi theo cách này: sau khi mua lại bộ phận sản xuất máy tính cá nhân của tập đoàn IBM, Công ty máy tính Legend đổi tên thành Lenovo. Tuy nhiên, không có lối đi tắt trong việc xây dựng thương hiệu cho nên Lenovo cần bảo đảm thương hiệu Lenovo được chấp nhận ở các thị trường chính chứ không chỉ dựa vào tiếng tăm của vụ sáp nhập.

Giai đoạn cuối là việc chấp nhận thương hiệu như một tài sản chủ yếu của doanh nghiệp. Khái niệm “vốn thương hiệu” có nghĩa là thương hiệu có giá trị quy thành tiền, phải được coi trọng như mọi thứ khác trong bảng cân đối tài sản của công ty. Để tăng giá trị vốn thương hiệu, các công ty châu Á nên sử dụng sự tư vấn thương hiệu có chất lượng để lọc ra những biến số có thể hỗ trợ hoặc cản trở việc xây dựng và duy trì thương hiệu.


Cần kiên nhẫn

Để xây dựng thương hiệu mạnh cần có rất nhiều thời gian (và tiền bạc). Trong một thời gian dài các thương hiệu Hàn Quốc đứng dưới đáy của “cây nêu thương hiệu” vì người tiêu dùng đồng nhất sản phẩm và thương hiệu Hàn Quốc với những gì rẻ tiền, sản xuất hàng loạt và chất lượng kém. Các doanh nghiệp Hàn Quốc đã nỗ lực rất lớn để thay đổi thành kiến này.

Ở Hồng Kông, vị trí quảng cáo ngoài trời đắt giá nhất là khu vực cảng Victoria, nơi người đi phà từ đảo Hồng Kông sang Cửu Long đều nhìn thấy bảng quảng cáo các thương hiệu nổi tiếng thế giới, cả ngày lẫn đêm.

Trong một thời gian dài Samsung chiếm vị trí quảng cáo tốt nhất trên cảng Victoria. Có lẽ vị trí quảng cáo ngoài trời đắt nhất thế giới là quảng trường Times Square ở New York, và từ lâu Samsung và LG đã chiếm những vị trí nổi bật ở đó. Tại Paris và nhiều sân bay quốc tế khác, các công ty Hàn Quốc gần như độc quyền quảng cáo trên xe đẩy hành lý. Phải rất nhiều năm sau các hoạt động này mới phát huy hiệu quả.

Tập đoàn Procter & Gamble (P&G) nổi tiếng với hệ thống quản trị thương hiệu và không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt các cựu quản trị viên của P&G giờ đây đang đảm nhiệm vai trò giám đốc tiếp thị, thậm chí tổng giám đốc điều hành (CEO) của nhiều doanh nghiệp có thương hiệu được quản lý tốt nhất ở Hàn Quốc.


Và linh hoạt

Quản trị thương hiệu là việc làm rất tinh tế. Đôi khi nhà quản trị mất cả một đời để xây dựng một thương hiệu thành công toàn cầu, song nó có thể bị phá hỏng chỉ trong thời gian ngắn, còn người tiêu dùng thì không ngừng tìm kiếm những “thương hiệu lớn” và mới mẻ. Chính vì vậy, mọi thương hiệu đều phải thân thiện với người tiêu dùng.

AmorePacific là một công ty Hàn Quốc có tham vọng trở thành một trong mười công ty mỹ phẩm hàng đầu thế giới trong thập niên sắp tới. Thành công của AmorePacific đáng chú ý ở chỗ chiến lược của nó không giống với bất kỳ mô hình thương hiệu toàn cầu nào. Tại mỗi thị trường, công ty rất cẩn thận trong việc hội nhập vào các điều kiện thương hiệu địa phương.

Ví dụ ở Trung Quốc, công ty tận dụng làn sóng phim Hàn, đưa ngôi sao Jeon Ji-hyun, diễn viên chính trong phim “Cô nàng ngổ ngáo”, làm hình ảnh quảng cáo của mình; tại Mỹ công ty dựa vào các doanh nghiệp quan hệ cộng đồng và các tạp chí thời trang như Vogue trong khi tại Hàn Quốc công ty vẫn phải dựa chủ yếu vào phương thức bán hàng tận nhà vì khách hàng địa phương không chỉ mua sản phẩm mà còn cần được tư vấn về mỹ phẩm.

Tập đoàn Samsung thì tài trợ cho đội bóng Chelsea của Giải Ngoại hạng Anh - một hoạt động mang lại nhiều lợi ích. Trong đội hình của Chelsea có các ngôi sao đa quốc gia và các trận đấu của giải này được truyền hình tới tất cả các quốc gia đó, kèm theo là logo của Samsung - điều đó không chỉ giúp Samsung trở nên quen thuộc với người tiêu dùng ở các thị trường hiện tại mà còn giúp vươn tới các thị trường tương lai.

Những nỗ lực này tạo cho thương hiệu một quan hệ thân thiện với người tiêu dùng. Bài học cuối cùng mà các công ty Hàn Quốc vẫn đang còn phải học là quản lý thương hiệu là chuyện khó. Để gia nhập hàng ngũ các thương hiệu toàn cầu “hạng A” công ty phải đầu tư thời gian, tiền bạc và đội ngũ nhân viên tài giỏi nhất để xây dựng và duy trì thương hiệu của mình.

Theo TBKTSG [from lantabrand]

April 23, 2008

[BAO BÌ - HỒN CỦA SẢN PHẨM]

Filed under: Advertising, Graphic Design — Tags: , , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 2:23 am

Nếu để một sản phẩm riêng lẻ thì chúng ta ít chú ý đến bao bì. Nhưng đặt sản phẩm đó trên một quầy hàng bán lẻ với hàng chục sản phẩm cùng loại thì chẳng khác nào một cuộc thi hoa hậu…

Mỗi sản phẩm phải chứng minh “nhan sắc” của mình qua bao bì. Bao bì là phần dễ nhìn thấy nhất của sản phẩm mang khả năng kích thích người mua.

Người mua hàng muốn gì ở bao bì? Trước hết là yếu tố thẩm mỹ, “bắt mắt”. Trước nhiều sản phẩm có thương hiệu xa lạ, chưa dùng bao giờ, người mua hàng bị thu hút bởi bao bì có kiểu dáng đẹp, có hình ảnh, kiểu chữ trình bày gây ấn tượng. Thứ đến là thông tin trên bao bì. Ở mức tối thiểu, bao bì phải có những thông tin như tên nhãn hiệu, đơn vị sản xuất, thành phần, số lượng, cách sử dụng, thời gian bảo hành (đối với các sản phẩm có thời gian bảo hành)… Cuối cùng là sự tiện dụng: dễ mở, dễ sử dụng, dễ cất trữ và có thể tái sử dụng. Một gói kẹo cho trẻ con không có đường rãnh để xé ra, phải dùng kéo để cắt là quá bất tiện.

Người bán lẻ, nhìn bao bì sản phẩm dưới một khía cạnh khác: họ muốn hàng hóa đựng trong bao bì (thùng giấy, hộp kim loại…) phải dễ bốc xếp, bảo quản, hàng bên trong phải đúng số lượng ghi trong bao bì. Kiểu dáng bao bì phải tiện lợi cho việc trưng bày, có thể xếp chồng lên nhau trên kệ hàng. Và người bán cũng cần những thông tin trên bao bì để giải thích cho khách hàng khi khách hàng chỉ hỏi sơ qua mặt hàng nào đó mà chưa quyết định mua.

Đối với một doanh nghiệp kinh doanh nghiêm túc, bao bì sản phẩm không chỉ là yếu tố thẩm mỹ. Việc thiết kế bao bì nằm trong định hướng của chiến lược tiếp thị sản phẩm. Trong một thời gian theo định kỳ, nhà sản xuất phải đánh giá lại mẫu bao bì, đo lường tác dụng đối với người mua và thay đổi bao bì nếu thấy cần thiết. Thường quyết định thay đổi bao bì diễn ra trong những tình huống sau:

- Thay đổi bao bì trong một chiến dịch tiếp thị mới.

- Thay đổi vì bao bì hiện tại tỏ ra ít hấp dẫn so với sản phẩm cùng loại.

- Tạo một hình ảnh mới về thương hiệu.

- Phát huy giá trị sản phẩm đã được “nâng cấp” về chất lượng.

- Sử dụng được nguyên liệu để làm bao bì tốt hơn so với bao bì cũ.

Thực tế cho thấy có những thương hiệu sản phẩm nổi tiếng và thành công, nhà sản xuất vẫn quyết định thay đổi bao bì, tạo hình ảnh mới về sản phẩm và làm người mua không nhàm chán.

Theo TBKTSG [LANTABRAND]

April 8, 2008

[NGHIỆP QUẢNG CÁO NGÀY NAY]

Filed under: Advertising — Tags: , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 3:43 am

Hàng ngày, bạn có thể chứng kiến rất nhiều người luôn bận rộn, tất bật và vùi đầu trong suy nghĩ để tìm ra cho mình một ý tưởng. Đối với họ, một ý tưởng hay có thể đáng giá hàng triệu USD cũng như sẽ thất bại thảm hại nếu không có ý tưởng. Đó chính là các nhân viên tại nhiều công ty quảng cáo lớn. Họ đang làm một nghề được ví như “nghề của thời thượng” trong một xã hội tiêu dùng phát triển nhất từ trước đến nay. Và bù lại, để thành công họ phải là những bậc thầy về tâm lý khách hàng.

Giờ đây, khi mà quảng cáo lên ngôi trong mọi lĩnh vực thì cái nghề quảng cáo cũng được mọi người nhìn nhận với một con mắt khác. Nếu bạn đã xem bộ phim của Hollwood “What women want” với hai siêu sao điện ảnh Mel Gibsson và Helent Hunt có lẽ bạn sẽ có một cảm nhận đầy đủ hơn về cái “nghề của thời thượng” này. Trong phim, Helent Hunt đã cho mọi người thấy công việc của một nhân viên làm quảng cáo ngày nay, những nguời quá bận rộn để tìm ra ý tưởng, cuộc sống tình cảm không được như ý muốn. Rồi đến khi không có được ý tưởng, họ phải tìm mọi cách thâm nhập thị trường, từ việc đi chào hàng trực tiếp, đóng giả khách hàng đến “ngâm mình” hàng giờ đồng hồ liền trước một khu phố lớn với hàng nghìn panô, áp phích quảng cáo khác nhau. Sau đó, khi về văn phòng làm việc, những nhân viên này bắt đầu vùi đầu vào bàn làm việc với nhiều bản vẽ phác thảo, bản in thử lần đầu các poster quảng cáo. Công việc vẫn chưa kết thúc, khi những bản thảo được hình thành, các nhân viên này sẽ tiếp tục có các buổi thuyết trình với giám đốc và khách hàng về ý tưởng của mình.

Khó khăn như vậy nhưng dường như đối với giới trẻ năng động và tư duy sáng tạo cao như hiện nay thì cái “nghề của thời thượng” này lại tỏ ra vô cùng thích hợp. “Chỉ cần có tinh thần thép là bất cứ ai cũng có thể thành công trong lĩnh vực quảng cáo. Kinh doanh đang ngày một phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, hàng nghìn công ty mới xuất hiện mỗi ngày, do đó, công việc của các công ty quảng cáo cũng bận rộn hơn nhiều. Các nhân viên quảng cáo cũng sẽ không có chuyện nhàn rỗi và thư thái chờ đợi các ý tưởng tự nhiên xuất hiện như trước nữa”, Luther Tomish, một chuyên gia quảng cáo tại Mỹ nhận định.

*) Câu chuyện từ một nhân viên quảng cáo

Kevin Maser, một nhân viên lâu năm của hãng quảng cáo JP Walter Thompson kể lại: “Nghe có vẻ khó tin nhưng đây là sự thực hoàn toàn. Tôi đã từng phải đóng giả khách hàng nữ, sử dụng các sản phẩm dành riêng cho họ chỉ để tìm hiểu xem người tiêu dùng nữ giới muốn gì đối với các sản phẩm của mình”. Và những nỗ lực của Kevin đã được đền đáp khi anh hiểu được tâm lý phụ nữ và đưa ra nhiều quảng cáo thành công.

Chính Kevin là người tạo gương mặt mới cho hãng mỹ phẩm Lux với siêu sao Sarah Jessica Parker, diễn viên chính của series phim truyền hình nổi tiếng Sex and the city. Anh khuyên Lux chi ra 37 triệu bảng Anh để “đánh bóng” lại tên tuổi của mình và Parker là người được chọn để thực hiện việc này. Theo đánh giá của Kevin thì Parker có một gương mặt hoàn hảo phù hợp với chiến dịch quảng cáo mà công ty đề ra “Lux - sự lựa chọn của các ngôi sao”. Và đúng như Kevin dự đoán, hình tượng quảng cáo này đã tạo nên một sự phấn khích và hào hứng đối với khán giả yêu thích bộ phim Paker đóng cũng như vẻ đẹp của cô. Đó chính là hy vọng của Kevin về sự ảnh hưởng mà Parker sẽ mang lại cho sản phẩm của Lux.

Nghề quảng cáo luôn được xem là một nghề vô cùng căng thẳng, đòi hỏi nhiều nỗ lực và hy sinh từ các nhân viên làm quảng cáo. Kevin nói: “Tôi có cảm giác đối với những người như tôi thì nghề quảng cáo là con đường một chiều, không có sự quay lại mà chỉ có sự đi lên mãi mãi mà thôi. Không có giới hạn nào cho các quảng cáo, ngay cả bầu trời xanh cao ngất”. Có thể tâm sự của Kevin hoàn toàn đúng bởi anh là người chứng kiến sự thay đổi của ngành công nghiệp không khói này trong gần 20 năm qua tại JP Walter Thompson, một trong những đại gia quảng cáo của thế giới, nơi Kevin là việc. Không chỉ lớn mạnh ở Mỹ, JP Walter Thompson còn là chủ nhân của rất nhiều giải thưởng của ngành quảng cáo thế giới. Điều đáng chú ý là JP Walter đã thành công chủ yếu nhờ phục vụ các hoạt động quảng cáo cho các công ty vừa và nhỏ.

Theo Kevin thì thị trường khách hàng quảng cáo là công ty nhỏ và vừa là rất rộng lớn và vô cùng tiềm năng. Tuy nhiên, với các khách hàng này, do đồng vốn dành cho quảng cáo của họ rất ít ỏi, các nhân viên quảng cáo cần nỗ lực hơn nhiều lần để tập trung đạt hiệu quả cao nhất với từng đồng chi ra cho quảng cáo. Để thành công, điều cần nhất và quan trọng nhất đối với một nhân viên quảng cáo vẫn là làm sao biết được khách hàng của mình là ai, thuộc phân khúc thị trường nào. “Quảng cáo cần nhắm tới những đối tượng khách hàng nhất định. Trên thương trường, có hàng nghìn, hàng vạn công ty khác nhau nên phân khúc thị trường cũng rất khác nhau. Do đó, nếu bạn quá ôm đồm mọi đối tượng quảng cáo thì sẽ rất khó thành công”, Kevin nói.

Kevin luôn giúp khách hàng biết trước sản phẩm mới nào sẽ bán chạy, sản phẩm nào không. Một hộp kem dưỡng da giá 70 USD chắc chắn không thể bán chạy được. Nhưng nhà sản xuất nằng nặc yêu cầu anh thử nghiệm sức hút của sản phẩm ấy trên thị trường. Khách hàng là thượng đế và khi họ muốn thì Kevin đành chiều ý. Kevin mở cửa hàng bán lẻ mang tên Once Famous có gắn hệ thống camera theo dõi phản ứng của người tiêu dùng. Với 67 nhân viên làm việc trong một không gian rộng 1.800 mét vuông, cửa hàng này không kiếm lời từ việc bán lẻ mà nó phục vụ một mục đích khác. Nhà sản xuất muốn nắm bắt tường tận thói quen, suy tính, phản ứng của người mua hàng trước một sản phẩm. Tại sao họ quyết định mua, cái gì hút họ, cái gì không… ? Và để có được những thông tin ấy, nhà sản xuất phải nhờ cậy đến Kevin cũng như bao nhiều nhân viên quảng cáo khác. Những nhân viên này sẽ nghiên cứu thị trường và trực tiếp phỏng vấn người tiêu dùng theo từng nhóm có chọn lọc hoặc theo từng cá nhân bất kể phân loại nào.

Kevin cho biết: Công việc này nhìn tưởng dễ nhưng thực ra không dễ chút nào. Đã nhiều lúc tôi phải nghĩ ra cách thăm dò khác thường để đạt yếu tố trung thực ở mức cao hơn. Đó là đặt camera lén theo dõi khách hàng. Nhiều người phản đối nhưng cũng có nhiều người nhận định phương pháp này là khả thi miễn là con mắt dò xét đừng bám theo khách hàng đến tận phòng thử quần áo và phòng vệ sinh!”.

Với những chuyên gia quảng cáo lão luyện như Kevin, thì việc quảng cáo luôn nhằm đến việc xây dựng thương hiệu cho khách hàng chứ không chỉ nghĩ đến quảng cáo để tiêu thụ nhanh sản phẩm. Và để làm được điều này, tại JP Walter Thompson, Kevin luôn tỏ ra sáng tạo trong những quảng cáo của mình. Mặc dù không tiết lộ doanh thu chính xác của JP Walter Thompson nhưng Kevin cho biết doanh thu từ quảng cáo năm sau đều cao hơn nhiều so với năm trước nhờ số lượng khách hàng là các công ty vừa và nhỏ cũng ngày một gia tăng.

*) Đâu là một nhân viên quảng cáo thực thụ?

Ngày nay, trong một bối cảnh ngày càng nhiều thông tin và quảng cáo tranh dành sự chú ý rất hạn chế của khách hàng, để xây dựng một chương trình quảng cáo đối thoại hiệu quả là một công việc không dễ và cần phải được chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng với một sự đầu tư hợp lý về thời gian, chất xám và tiền bạc.

Trước hết, nhân viên quảng cáo cần phải có một “cái đầu to, đẹp, hoàn chỉnh”. Để đạt được mục tiêu phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, việc đầu tiên cần thực hiện là xác định được mục tiêu của quảng cáo. Một quảng cáo có thể được thực hiện với những chủ đích khác nhau như để tăng doanh số bán hàng, để tạo uy tín cho thương hiệu, để tạo chú ý cho thương hiệu luôn “có mặt” hoặc để nhắc nhở thương hiệu trong lòng người tiêu dùng.

Các nhân viên quảng cáo cần chủ động thực hiện những bước đi cần thiết để thăm dò, tìm hiểu khách hàng và thị trường quảng cáo. Ngoài ra, việc nắm bắt các chiến lược và nghệ thuật quảng cáo của các đối thủ cạnh tranh cũng vô cùng cần thiết. Cuối cùng, các nhân viên quảng cáo cần tìm hiểu phong tục tập quán, truyền thống văn hoá cũng như những quy định, luật lệ của những nơi mà quảng cáo hướng tới.

Sau khi ký được một hợp đồng quảng cáo với khách hàng, sẽ có vô khối công việc cần phải làm với các nhân viên quảng cáo nào là suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, thiết kế các mẫu mã quảng cáo, thử nghiệm các quảng cáo, chỉnh sửa nội dung đến thực hiện chính thức nội dung quảng cáo và tất cả các loại hình tạo mẫu quảng cáo khác. Đây là trách nhiệm nhưng đồng thời cũng chứng tỏ bản lĩnh và khả năng của một nhân viên quảng cáo.

Ngoài ra, các nhân viên quảng cáo còn phải lo lắng đến truyền thông quảng cáo, những mối quan hệ nhân sự, nghiên cứu thị trường, tổ chức giới thiệu, phụ trách các chương trình tài trợ của khách hàng, giới thiệu sản phẩm mới, dịch vụ mới, viết và gửi các nội dung quảng cáo, đánh giá hiệu quả quảng cáo, theo dõi phát sóng quảng cáo cũng như thái độ của người xem. Cuối cùng, các nhân viên quảng cáo còn phải thực hiện nhiều công việc linh tinh khác có dính liền đến với hoạt động quảng cáo mà trong nghề vẫn quen gọi là cá dịch vụ below-the-line như tổ chức khuyến mãi, phát mẫu, gửi hư trực tiếp, triển làm, hội chợ,…).

Một trong những thông điệp chính yếu mà nhiều chuyên gia ngày nay nhận định rằng quảng cáo đã và đang đánh mất chức năng là một công cụ của marketing và hiện đang được thừa nhận một cách rộng rãi như là một hình thức nghệ thuật, điều này đã lý giải tại sao tất cả các phim quảng cáo đều làm chúng ta vui cười “Ồ, thật là hay” nhưng chỉ năm phút sau bạn sẽ không nhớ nổi công ty tên gì. Chính vì thế, các nhân viên quảng cáo cần tập trung xây dựng một chiến lược đối thoại tổng thể, sử dụng tất cả mọi công cụ trên nhiều kênh khác nhau để cùng tiếp cận khách hàng để tăng độ nhận biết và độ thuyết phục của thông điệp. Trong đó phải kể đến các kênh truyền hình, các loại báo chí, các loại tờ rơi, áp phích, băng rôn, rồi đến các công cụ đối thoại mới nhất như email, internet, điện thoại di động. Hệ thống này còn được gọi là IMC (Intergrated Marketing Communication), có nghĩa là “đối thoại marketing tổng lực”. Bên cạnh đó, theo xu thế phát triển kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay, quảng cảo trên lnternet sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh và rút ngắn dần khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu đùng. Quảng cáo trên lnternet là cơ hội để các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm của mình ra thế giới một cách nhanh nhất.

Trong một thị trường cạnh tranh, không phải khách hàng nào cũng dễ dàng giao toàn bộ một chiến dịch quảng cáo cho một nhân viên quảng cáo duy nhất. Có khi khách hàng không ngại phân các công đoạn của chiến dịch quảng cáo ra cho nhiều nhà quảng cáo khác nhau. Vì thế để giữ khách hàng luôn trung thành với mình, các nhân viên quảng cáo cần sẵn sàng đi mọi chân trời góc biển với khách hàng. Đối với họ thì công việc briefing (giới thiệu khả năng quảng cáo cho khách hàng hoặc nghe khách hàng yêu cầu cho chiến dịch quảng cáo mới), hay bidding (đấu thấu quảng cáo) của nhiều công ty cho cùng một khách hàng để cạnh tranh giành khách hàng là chuyện thường tình.

Có thể nói, khi mà cái nghề thời thượng này đang cạnh tranh ngày một khốc liệt thì lẽ dĩ nhiên các nhân viên làm việc cho đại gia quảng cao lớn nhất thế giới, hoạt động trên toàn cầu như McCann Ericsson, Leo Burnett, Bates Worldwide, Saatchi&Saatchi,… có lợi thế lớn hơn nhiều. Nhưng không vì thế mà các nhân viên quảng cáo khác phải e sợ mà không dám cạnh tranh với các người khổng lồ. Nếu kết hợp lòng yêu thích công việc với một trí sáng tạo giỏi thì chẳng có gì cản trở được một nhân viên quảng cáo phát triển và thành công cả.

Tác giả: Nguyễn Tuyết Mai
(Tổng hợp từ Globe Life)

Older Posts »

Blog at WordPress.com.