ifindu’s mini world

April 23, 2008

[LỐI TẠO HÌNH MỚI TRONG HỘI HỌA]

Filed under: Experience, Idea — Tags: , , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 2:05 am
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên

PIET MONDRIAN

(1872-1944)

Piet Mondrian [Pieter Cornelis Mondriaan] sinh ngày 7 tháng 3 năm 1872 ở Amersfoort, Hà-lan. Cha ông hướng ông theo ngành dạy học, và ông có một bằng dạy vẽ. Năm hai mươi tuổi ông vào học hội hoạ ở Viện Mỹ Thuật Amsterdam và bắt đầu vẽ những phong cảnh hiện thực, trước tiên chịu ảnh hưởng những màu sắc rực rỡ của Van Gogh, rồi chuyển qua một hình thức dã thú và chọn cách điểm màu nguyên thủy kề cạnh nhau — thay thế những màu của tự nhiên bằng những màu nguyên thủy. Ngay từ những thời kỳ đầu thẩm thức của ông rõ ràng nghiêng về một lối cấu trúc đường nét và sự đối chọi chặt chẽ giữa đường đứng và đường ngang. Bị cuốn theo các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại thời ấy, trong đó rất đáng kể trường phái lập thể [với ông là một mô thức lập thể phân tích], ông đến Paris năm 1912, ở đây ông khám phá Cézanne, Braque và Picasso. Ông bắt đầu đi tìm những lối phân rời hình thức, vẽ trừu tượng [loạt tranh CÂY] và sau đó vượt qua cả kinh nghiệm trừu tượng để đạt tới một nghệ thuật bất kể thực tại, sắp xếp liền nhau những đường thẳng và màu sắc theo một “lối biểu hiện tự do những tương quan” nhưng vẫn giữ “tính cách tương đối và giới hạn”: đường nét trong những “bố cục” ngày càng dơn giản và đầy tính cách và nhịp điệu của ông là những đường thẳng đứng hoặc ngang, và màu sắc giới hạn trong ba màu căn bản, đỏ, vàng, lam, hoặc những không-màu như trắng, đen, xám — các mảng màu như thế sẽ nằm gọn trong các hình vuông hoặc hình chữ nhật [loạt tranh MẶT TIỀN], sau này có khi là hình thoi. Năm 1914 Mondrian trở về Hà-lan thăm cha và do chiến tranh nên bị kẹt tại đây hai năm. Khi ông trở qua Paris khoảng 1919, một ngọn gió nghệ thuật khác đã khiến ông từ bỏ những chấn song để bước vào cái mà sau đó ông gọi là lối tạo hình mới.*

Khi Thế chiến II sắp bùng nổ, ông qua London, và sau đó là New York. Ở Mỹ, bắt đầu năm1940, ông thay thế những đường nét đen bằng những dải màu gồm nhiều hình chữ nhật hay hình vuông màu nhỏ và đã đem lại cho tranh ông một thứ trữ tình “vui tươi”, cho nên nhiều người vẫn cho rằng vào những năm cuối đời, ông hoàn toàn thoát khỏi những ám ảnh [bấy giờ có khuynh hướng] gia tăng các đường thẳng màu đen, và đã quyết định bỏ mọi thứ màu đen trên tranh mình. Khi ông qua đời ngày 1 tháng 2 năm 1944 ở New York, báo chí nước Mỹ đã đồng thanh vinh danh, và ngày nay không ai không nhớ đến ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài của tác phẩm ông, được triển khai không những ở trường phái Bauhaus mà cả đến những nhóm nghệ thuật “Tròn và Vuông”, rồi “Trừu tượng - Sáng tạo” sau đó.
——————–
* néoplasticisme

___________

LỐI TẠO HÌNH MỚI TRONG HỘI HOẠ

Đời sống của con người có kiến thức ngày nay dần dần từ bỏ những sự vật thiên nhiên để càng ngày càng trở nên một đời sống trừu tượng.

Những sự vật thiên nhiên (bên ngoài) càng lúc càng trở thành máy móc, thì chúng ta nhận thấy sự lưu tâm chính yếu càng ngày càng hướng vào những sự vật bên trong. Đời sống của con người thật sự mới không thuần duy vật mà cũng không thuần tình cảm, trái lại nó biểu lộ ra như một đời sống tự trị hơn của tâm linh con người đang ý thức được sự hiện hữu của chính mình.

Con người mới — dù là hợp nhất của thể xác, linh hồn và trí óc — cho ta thấy một ý thức đã thay đổi: tất cả các cách biểu hiện đời sống hiện ra dưới một khía cạnh khác, tôi muốn nói là dưới một khía cạnh trừu tượng tích cực hơn.

Trong nghệ thuật cũng vậy. Nghệ thuật sẽ trở thành sản phẩm của một thứ đối tính khác trong con người: sản phẩm của một bên ngoài có kiến thức và của một bên trong ý thức hơn, và được đào sâu. Chỉ tiêu biểu thuần túy cho tâm linh con người, nghệ thuật sẽ phô diễn dưới một hình thức thẩm mỹ được lọc luyện, nghĩa là hình thức trừu tượng.

Người nghệ sĩ thật sự mới ý thức tính cách trừu tượng trong một lúc cảm xúc vẻ đẹp, anh ta ý thức nhận rằng cảm xúc cái đẹp là một cảm xúc toàn thể, bao quát. Sự nhận thức đó có một hệ luận là lối tạo hình trừu tượng, vì con người chỉ liên kết với những gì phổ quát.

Như vậy lối tạo hình mới sẽ không có hình thức của một sự tượng hình tự nhiên hay cụ thể, là sự tượng hình thật ra luôn luôn biểu lộ tới một mức độ nào đó cái phổ quát, hoặc, ít ra, cũng che giấu nó bên trong. Lối tạo hình mới này sẽ không thể trang bị bằng những gì biểu thị tính chất đặc biệt, nghĩa là hình thể và màu sắc thiên nhiên. Trái lại nó tìm ra được lối biểu hiện của nó trong sự trừu tượng hoá của mọi hình thể và màu sắc, nghĩa là bằng đường thẳng và bằng màu sắc sơ đẳng được xác định rõ ràng.

Những cách thức biểu hiện phổ thông đó được khám phá ra trong hội hoạ mới do đường đi tới của một lối trừu tượng tiến hoá và hợp lý của hình thể và màu sắc. Một khi tìm được giải đáp rồi, người ta thấy xuất hiện, như tự nơi mình, sự biểu tượng đích xác của những tương quan duy nhất và, cùng với những tương quan đó, là yếu tố chính, căn bản, của mọi cảm xúc tạo hình về cái đẹp.

Như vậy lối tạo hình mới là một sự tương quan thẩm mỹ được diễn tả đúng mức, Người nghệ sĩ ngày hôm nay kiến tạo nó, trong hội hoạ, như một hệ quả của mọi lối tạo hình trong quá khứ — và chính điều đó xảy ra trong hội hoạ, vì hội hoạ là bộ môn nghệ thuật ít ràng buộc với những sự ngẫu nhiên nhất. Cả đời sống mới, khi tự đào sâu, có thể phản chiếu lại nguyên vẹn trong bức tranh. Trong hội hoạ — hội hoạ thuần túy, chứ không phải hội hoạ trang trí — chính lối tạo hình thiên nhiên cũng như những cách thức biểu hiện của nó đã “hướng nội” bằng cách mượn đường đi đến trừu tượng. Hội hoạ trang trí thì chỉ có thể đạt đến sự tổng quát hoá của hình thể và màu sắc thiên nhiên thôi.

Và chính vì vậy mà, do hội hoạ thuần túy, cảm năng trong lối tạo hình thẩm mỹ của những tương quan đã đạt đến chỗ sáng sủa.

Trong nghệ thuật vẽ tranh đó — cái nghệ thuật đã tiếp nhận trong nó nghệ thuật trang trí hiện hữu hay, đúng hơn, là đã trở thành chính nghệ thuật trang trí thật sự — lối biểu hiện tự do những tương quan dĩ nhiên vẫn sẽ có tính cách tương đối và giới hạn. Bản chất thầm kín của tất cả nghệ thuật dù có độc đáo và như nhau chăng nữa, cảm năng trong lối tạo hình thẩm mỹ của những tương quan dù có diễn tả càng lúc càng rõ ràng hơn trong tất cả các bộ môn nghệ thuật chăng nữa, thì tất cả những bộ môn của nghệ thuật cũng không thể diễn tả cái tương quan rõ ràng đó với cùng một sự hữu hiệu như nhau.

Bởi vì, nếu nội dung của tất cả bộ môn nghệ thuật đều cùng giống nhau, thì những khả năng diễn tả nơi mỗi nghệ thuật đều khác nhau. Những khả năng đó phải được tìm ra trong mỗi bộ môn của những nghệ thuật trên chính địa hạt thuộc về bộ môn đó và phải luôn dính liền với địa hạt đó.

Mỗi nghệ thuật đều có âm điệu riêng, những cách thức biểu hiện riêng của nó, và vì vậy mà người ta có thể giải thích được sự hiện hữu của những bộ môn nghệ thuật khác nhau. Tuy nhiên âm điệu của hội hoạ có thể định nghĩa như lối biểu hiện hợp luận lý và thuần lý nhất của các tương quan thuần túy. Vì đặc quyền riêng biệt của hội hoạ là có thể diễn tả các tương quan đó một cách tự do. Như thế có nghĩa là những cách thức biểu hiện đó (bởi sự đi tới cùng của luận lý bên trong của chúng) cho phép cực độ một và cực độ khác phát biểu bằng mối tương quan vị trí duy nhất, không thu nhận một hình thể nào hay một hình thể giả vờ nào khép kín, như chúng ta thấy trong kiến trúc.

Trong hội hoạ, đối tính của mối tương quan có thể được biểu hiện bằng những vị trí tách rời, là điều không thể có được trong kiến trúc hay trong điêu khắc. Chính do chỗ đó mà hội hoạ có thể là một nghệ thuật tạo hình thuần túy nhất.

Tự do sử dụng phương cách biểu hiện là đặc quyền riêng biệt của hội hoạ. Những nghệ thuật anh em, như điêu khắc và kiến trúc, không được tự do nhiều đến như vậy. Những bộ môn khác của nghệ thuật còn ít tự do hơn trong việc đem ảnh hưởng tiên quyết vào cách thức biểu hiện.

Hội hoạ, không vượt quá mức những phương cách biểu hiện của chính nó, vẫn còn có thể đạt đến một sự xác định rõ ràng và đạt đến cả sự hướng nội của những phương cách đó.

Tuy nhiên lối tạo hình mới vẫn thuần túy là hội hoạ: những phương cách biểu hiện vẫn luôn luôn là hình thể và màu sắc, dù là trong sự hướng nội toàn diện nhất của nó; đường thẳng và màu sắc vẽ trơn phẳng vẫn là những phương cách biểu hiện thuần túy hội hoạ.

Dù mọi lối chia khác biệt trong cách biểu hiện, mỗi nghệ thuật, dù là nghệ thuật gì chăng nữa, nhờ kiến thức mở rộng dần của tâm linh, đều càng ngày càng trở thành một sự diễn tả đích xác những tương quan quân bình. Thật vậy, tương quan quân bình là lối diễn tả thuần túy nhất của toàn thể, của hoà hợp và của đồng nhất, là đặc tính của tâm linh.

Vậy nếu chúng ta chú tâm vào cái tương quan quân bình đó, chúng ta có thể thấy được sự đồng nhất trong những sự vật thiên nhiên. Tuy nhiên sự đồng nhất đó chỉ hiện ra một cách lờ mờ. Nhưng nếu sự đồng nhất không bao giờ đi tới một sự biểu hiện đích xác thì sự diễn tả cũng vẫn có thể đưa về tính cách đó. Vậy nên sự diễn tả đích xác của tính cách đồng nhất có thể phát biểu được; nó phải được phát biểu, vì trong thực tại cụ thể người ta không trông thấy nó được.

Trong thiên nhiên, ta có thể nhận thấy rằng tất cả những tương quan đều bị chi phối bởi một tương quan nguyên thủy duy nhất, là cái tương quan của cực độ một đối diện với cực độ khác. Thế nhưng lối tạo hình trừu tượng của những tương quan lại biểu hiện cái tương quan nguyên thủy đó một cách rõ ràng bởi đối tính về vị trí tạo thành góc vuông. Cái tương quan vị trí đó là cái tương quan quân bình nhất trong mọi tương quan, vì nó diễn tả trong một hoà điệu hoàn toàn cái tương quan của cực độ một và cực độ khác và bởi vì nó mang trong nó tất cả những tương quan khác.

Nếu chúng ta quan niệm hai cực độ đó như một biểu lộ bên trong và bên ngoài, ta sẽ thấy rằng trong lối tạo hình mới mối liên lạc nối liền tâm linh và đời sống không hề bị gián đoạn; như vậy, chẳng những ta không xem nó như một phủ nhận đời sống thật sự sinh hoạt, chúng ta còn sẽ thấy nơi nó sự giải hoà của đối tính vật chất-tâm linh.

Nếu, nhờ sự thưởng ngoạn, chúng ta nhận biết được rằng sự hiện hữu của mọi sự vật đối với chúng ta được định nghĩa theo thẩm mỹ bằng những tương quan tương xứng, thì điều đó có thể có được vì ý niệm về cách biểu lộ sự đồng nhất đó đang sẵn phôi thai trong ý thức của chúng ta. Ý thức này, thật vậy, là một cách đặt riêng biệt ý thức chung, vốn chỉ là một.

Nếu ý thức con người lớn lên từ cái mơ hồ đến cái tích cực và cái xác định, thì ý niệm đồng nhất trong con người cũng sẽ lớn dần đến cái tích cực và cái xác định.

Nếu sự đồng nhất được chiêm ngưỡng một cách rõ ràng và xác định, thì sự chú ý sẽ chỉ được hướng về cái phổ quát và, bởi thế, cái đặc biệt trong nghệ thuật sẽ biến mất — như hội hoạ đã có cho thấy. Thật vậy, cái phổ quát chỉ có thể được diễn tả một cách thuần túy khi cái riêng biệt không còn chắn đường nữa. Chỉ khi đó ý thức phổ quát (nghĩa là trực giác), vốn là nguồn gốc của mọi nghệ thuật, mới có thể được trực tiếp trả về lại, để khai sinh ra một lối biểu hiện nghệ thuật được lọc luyện.

Tuy nhiên lối biểu hiện này không thể xuất hiện trước thời kỳ của nó. Vì chính ý thức thời gian xác định cách biểu hiện nghệ thuật, cái nghệ thuật đến lượt nó lại phản chiếu ý thức thời gian. Nhưng thật sự sinh hoạt, trong hiện tại, chỉ có hình thức nghệ thuật nào thực hiện được lối biểu hiện ý thức hiện tại — hay tương lai.

Những phương cách biểu hiện mới (mà lối tạo hình thuần túy dùng đến) là những chứng cứ của một lối nhìn mới. Nếu mục đích của tất cả mọi nghệ thuật là lối tạo hình những tương quan, thì, riêng ngày hôm nay thôi, có một lối nhìn ý thức hơn cũng đã dẫn chúng ta đến một cách biểu hiện rõ ràng hơn mục đích đó, và điều này chính là do sự đổi mới những phương cách tạo hình.

Những phương cách biểu hiện tạo hình phải hoàn toàn thoả hiệp với những gì chúng cần phải diễn tả. Nếu người ta đòi hỏi những phương cách đó phải là một lối biểu hiện trực tiếp của cái phổ quát thì chính chúng sẽ không thể là cái gì khác hơn là những cái phổ quát, nghĩa là những cái trừu tượng.

Bố cục dành cho người nghệ sĩ nhiều tự do hơn hết để chủ quan của anh ta có thể tự diễn tả tới một mức độ nào đó, trong một thời gian lâu bất cứ đến lúc nào còn thấy cần thiết.

Nhịp điệu của những tương quan về màu sắc và về mức độ làm hiện ra cái tuyệt đối trong cái tương đối của thời gian và không gian.

Như vậy lối tạo hình mới có tính cách đối tính do bố cục. Bởi lối tạo hình chính xác của những tương quan trong vũ trụ nó là một cách biểu hiện trực tiếp cái phổ quát. Bởi nhịp điệu, bởi thực tại vật chất của lối tạo hình của nó, nó là một cách biểu hiện chủ quan tính của người nghệ sĩ được coi như một cá thể.

Như vậy nó mở ra trước mắt ta cái đẹp phổ quát, nhưng không vì thế mà chối bỏ yếu tố nhân bản.

——————-
Dịch từ bản tiếng Pháp trong DE STIJL, số 1, tháng Mười, 1917. DE STIJL là tạp chí do Piet Mondrian và Van Doesburg sáng lập. Bản dịch từng xuất hiện trên tạp chí VĂN, số 93, tháng 10.1967, Saigon - số đặc biệt “Viết cho Hội Hoạ”.
Vài phong cách hội hoạ khác nhau của Piet Mondrian:
Ngôi nhà nhỏ dưới nắng
(sơn dầu trên bố, 52,5 cm X 68 cm, 1909-1910)
Bố cục với Đỏ, Vàng, Lam và Đen
(sơn dầu trên bố, 59,5 cm X 59,5 cm, 1921)
Broadway Boogie-Woogie
(sơn dầu trên bố, 127 cm X 127 cm, 1942/43)

Theo Tienve.org

March 25, 2008

[THIẾT KẾ VÀ YẾU TỐ CÂN BẰNG]

Filed under: Graphic Design, Web Design — Tags: , , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 9:15 am

Rất nhiều nhà thiết kế, dù xuất thân từ trường lớp hay không, cũng gặp những rắc rối khi làm việc. Tôi từng ngồi với nhiều nhà thiết kế khác nhau, nhìn họ dời các phần trong thiết kế qua lại cho tới khi họ cảm thấy “được rồi”.

Thiết kế, bản chất cốt lõi của nó, chính là truyền thông, truyền đạt thông điệp (tôi biết, tôi biết, tôi chỉ nói thì không đủ, nhưng ở đây không phải vậy) nhưng phương tiện truyền đạt chính là thiết kế. Một thành phần quan trọng trong việc truyền thông chính là kiến trúc thiết kế. Các trường dạy thiết kế hoặc là các trung tâm nên dạy bạn cách cảm nhận trong thiết kế hơn là dạy bạn thiết kế một cách máy móc. Nội việc thiết kế website mà việc đầu tiên là ngồi mở photoshop lên là đủ biết. Điều đó làm tôi rầu hết biết.

Cảm nhậnKhi thiết kế, hoặc chụp hình, chúng ta đặt ra điểm mà chúng ta nói rằng “như vậy là đạt” (hoặc “chúng ta sẽ làm” với thời hạn cuối cùng và kinh phí đề ra). Có bao nhiêu bạn phác họa và xác định dự án để làm nền tảng thay cho việc thiết kế máy móc? (giơ tay lên nào bạn).

Yếu tố cân bằng

Nhớ lại xem lúc bạn theo học tại các trường nghệ thuật? (nếu bạn từng ở đó). Ai nhớ được Tỷ lệ vàng (golden section)? Ok, ai hiểu về nó? Và quan trọng hơn, làm sao để sử dụng nó đây? Umh, tôi sẽ trả lời các câu hỏi này vào cuối bài. Tôi sẽ làm hết sức để cho bạn hiểu một số khía cạnh về Tỉ Lệ Vàng.

Tỉ lệ Vàng, hoặc Tỉ Lệ Cân Bằng (yếu tố cân bằng) là thể hiện trực quan của một số được gọi là Phi (hoặc fi). Oh, trước khi tiếp tục, tôi đã đọc “Da Vinci Code”. Phi là 1.618033988749895, hoặc là một số liên tục gọi là chuối Fibonacci. Nếu bạn để ý, số Phi là số mình từng giải phương trình bậc 2 quen thuộc ở thời cấp 3.

A = B x 1.618

hoặc B = C x 1.618

Vì thế, cái gì sẽ được áp dụng vào thiết kế. Điều này rất ngắn gọn, nhưng súc tích.

Phi có thể được thấy được ở khắp mọi nơi của vũ trụ- Tự Nhiên, Không gian, Vật lý, Toán học, Nghệ thuật và Thíết kế. Phi được tạo bởi Tỉ lệ cân bằng, người ta còn nghĩ là nó được tạo bởi Chúa Trời – God). Tỉ lệ cân bằng được dùng bởi các nghệ sĩ và người thiết kế.

Và đây là điều cần nhớ: sử dụng Tỉ lệ cân bằng trong việc tạo cấu trúc và phát triển cho việc truyền đạt thông điệp trong thiết kế của bạn.

Bằng cách nào hả? Bằng cách tạo nên một ngôn ngữ tự nhiên trong não bạn. Nếu chỉ có một tỉ lệ Phi được sử dụng, thiết kế sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn.

Sử dụng Phi trong thiết kế của bạn

Tôi đã nói hơi nhiều về lý thuất cấu trúc, nhưng ứng dụng nó trong bài tập là chuyện khác. Hy vọng tôi có thể làm rõ vài khía cạnh của nó.

Hãy nói về ví dụng mà chúng ta sẽ thực hiện: thiết kế một poster. Bạn sẽ bắt đầu bằng việc quyết định kích thước của poster. Tôi bắt đầu bằng cách quyết định chiều cao và tôi muốn nó sẽ là poster ngang (landscape). Chiều cao sẽ là 64cm. Vì vậy chúng lấy chiều cao để tạo thành một hình vuông 64×64 cm. Tôi lấy chuẩn là 64cm và nhân với 1.62 (bạn có thể sử dụng liên tục các tỉ lệ này trong toàn bộ thiết kế). 64×1.62 = 40 cm.

Như vậy chúng ta có chiều ngang của poster là 104 cm. Nó sẽ giống như hình minh họa phía dưới:

Vì thế, khi bạn trừ đi chiều cao ban đầu 64cm bạn sẽ có chiều rộng mới, điều này rất quan trọng cho đường vẽ Tỉ Lệ Cân Bằng. Đây là đường vô cùng quan trọng trong việc thiết kế cấu trúc và tạo nên nét đẹp chuẩn. Đây là ví dụ đơn giản, hình ảnh lọt vào một phần của hệ thống lưới chúng ta đã dựng ra, và đảm bảo tính cân bằng có cấu trúc:

Kết luận

Không có gì mới trong những điều tôi nói, vì thực tế Da Vince đã làm điều đó nhiều năm trước đây. Nhưng việc thực tập lý thuyết, điều đã bị lãng quyên trong hệ thống giáo dục, sẽ trở nên lý thuyết cho những ai không hiểu rõ về lý thuyết trong thiết kế. Hy vọng vài điều chia sẻ, nhưng rất quan trọng, sẽ có thêm thông tin cho việc áp dụng trong thiết kế với những suy nghĩ và quy luật đơn giản, dễ hơn với chuyện phải làm việc bằng cảm nhận.

Điều này có ích cho bạn? Bạn có thể có những lý thuyết khác, hãy chia sẻ cho tôi nhé.

Theo Thegioiweb - Nguồn: markboulton.co.uk

March 15, 2008

[PHÁC THẢO - RẤT CẦN TRONG THIẾT KẾ]

Filed under: Graphic Design — Tags: , — Nguyen Thi Hong Hanh @ 8:39 am

Một quá trình bình thường của việc thiết kế là tiến hành thiết kế trước rồi sau đó máy tính mới bắt đầu được sử dụng để phác họa ý tưởng và hoàn thiện ý tưởng đó. Tuy nhiên, từ khi computer trở thành một phần chủ yếu của việc thiết kế thì nhiều designer mất đi thói quen phác thảo trước khi họ bắt đầu đồ án nữa mà dựa hoàn vào các phần mềm máy tính.Các phần mềm đã giúp cho quá trình thiết kế nhẹ nhàng hơn rất nhiều nên cũng dễ hiểu tại sao một vài người đã lạm dụng nó và bỏ bớt đi khâu vẽ phác họa hay hay bảng diễn giải ý tưởng, những bản phân cảnh (story boards). Nhưng điều đó thật khó được chấp nhận trong quan điểm của thiết kế. Nó cũng giống như việc 1 nhà thiết kế thời trang bắt tay vào may mà không biết kiểu dáng đó trông như thế nào hay như hoạ sĩ vẽ fim hoạt hình bắt dầu làm việc trên máy tính mà chưa có story board. Trên thực tế, một số nhà thiết kế khi làm việc chung trong một nhóm chỉ quan tâm đến việc mình là người có bộ óc sáng tạo duy nhất khi được giao bất cứ kế hoạch nào mà không để ý rằng điều quan trọng nhất là làm cách nào để đưa ý tưởng ra cho mọi người hiểu một cách hiệu quả nhất.

Dĩ nhiên vạch rõ phương hướng cho kế hoạch không có nghĩa là bạn nhất thiết phải đưa và trình bày cho khách hàng thấy bản vẽ phác thảo của mình, chỉ cần bạn có một buổi cùng các đồng nghiệp tập trung mở rộng ý tưởng cho kế hoạch là đủ . Bất kì designer nào khi làm việc trong môi trường nhóm (team-work) cũng đều được yêu cầu phải có khả năng đưa ra bản phác họa cho quá trình ý tưởng của họ. Nếu 1 designer không thể cho thấy rằng họ có khả năng sắp đặt trước cho 1 đồ án hay đưa ra nhiều giải pháp thực hiện khác nhau, trưởng nhóm hay nhà tuyển dụng sẽ nhanh chóng kiếm người khác thay thế. Khi một vài người nói rằng họ có thể thực hiện toàn bộ bản phác thảo trong đầu thì đó là một điều hoàn toàn không ổn, và gây ra những khó khăn và trở ngại khi làm việc chung với những người còn lại trong nhóm làm việc.

Trong những khoảng thời gian mà bạn không ngồi ở bàn làm việc, chỉ cần một tập giấy để ghi chép và một cây viết là bạn có thể nhanh chóng phác họa lại những hình ảnh của những ý tưởng đến bất chợt để rồi khi trở lại với công việc bạn có thể bổ sung những ý tưởng đó 1 cách trọn vẹn hơn. Đây là một cách rất hay và thông dụng, nó giúp ích rất nhiều cho việc phác thảo.

Khía cạnh quan trọng nhất của viêc phác thảo là phải tôn trọng quá trình tiến triển của óc sáng tạo, giao phó ý tưởng cho nó và công nhận kết quả của nó. Để có khả năng đưa ý tưởng vào thực hiện trên máy tính bạn phải có trí óc sắc bén và trí nhớ tốt, tuy nhiên cũng có thể là do bạn lười phác thảo. Nếu không tập dợt thói quen phác thảo ngay từ đầu thì chắc chắn là bạn sẽ tự đặt mình vào tình thế bất lợi khi mà một designer hay một khách hàng, giáo viên, một nhà chỉ đạo nghệ thuật hay một người lãnh đạo nào đó muốn xem quá trình phát triển ý tưởng trong dự án svà chắc chắn một điều rằng khi bạn nói rằng tất cả những ý tưởng đó đều nằm trong đầu bạn., điều đó không đủ làm cho họ tin vào năng lực của bạn. Và nếu đang thực hiện một dự án tốt thì chắc chắn bạn có thể chứng tỏ rằng bạn không cần phải phác thảo, nhưng điều cần lặp lại rẳng nó chỉ có thể được khi bạn làm việc độc lập. Những chỉ đạo nghệ thuật, những nhà thiết kế lâu năm hay nhà quản trị dự án (project manager) chắc chắn sẽ nói cho bạn biết sự quan trọng của những gì bài viết này đang đề cập đến. Hãy dành thời gian để hỏi xem những đồng nghiệp xung quanh rằng tại sao họ lại coi trọng viêc phác thảo đến vậy.

Không cần phải là 1 nghệ sĩ phác họa tài giỏi bạn vẫn có thể tận hưởng những thành quả mà mình đã nỗ lực đạt được. Hãy tập thói quen đưa tất cả mọi ý tưởng lên mặt giấy và phát triển nó.

Copy from CaoInteractive

Blog at WordPress.com.